Lời nói đầu:
Nói đến văn học cũng chính là nói đến một người bạn tri kỷ thân thiết của loài người. Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống của mỗi cá nhân, mà đặc biệt phải kể đến chính là đời sống nghệ thuật và văn hóa. Vậy phải chăng có một mối dây liên kết vô hình giữa văn học với chúng? Sự liên kết ấy có những điểm đặc biệt nào? Ta hãy đi tìm câu trả lời ở bài viết sau đây.
1. VĂN HỌC VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC BỘ MÔN NGHỆ THUẬT KHÁC
Là địa hạt của tâm hồn, nghệ thuật chưng cất vẻ đẹp của con người, nâng đỡ những giá trị nhân sinh qua sự phản chiếu và tái tạo hiện thực mà người nghệ sĩ chính là người được trao sứ mệnh thiêng liêng đó. Tuy nhiên, hiện thực cuộc sống không phải là một thế giới đơn sắc mà lại có nhiều ngã rẽ, muôn hình vạn trạng. Chiêm ngưỡng nguồn sáng tạo dồi dào ấy với thiên mệnh tạo nên những tác phẩm nghệ thuật muôn đời, người nghệ sĩ có những cách thể hiện lòng mình bằng những chất liệu khác nhau. Song hành cùng sự phát triển của loài người, bảy loại hình nghệ thuật lần lượt ra đời. Văn học là một trong số đó và có mối quan hệ sâu sắc với các bộ môn nghệ thuật còn lại.
1.1. Văn học và hội họa
Lấy màu sắc làm chất liệu, hội họa chứng minh được sự độc đáo của nó qua việc phản ánh cuộc sống bằng những màu sắc khác nhau. Thế giới có hàng tỉ màu sắc thì chất liệu của hội họa là vô hạn, khả năng sáng tạo cũng từ đó mà vô biên. Nếu văn học là nghệ thuật sắp xếp những ý, những chữ thì hội họa chính là nghệ thuật sắp xếp sắc màu. Văn học dùng đấu bút để tả mặt trời lúc bình minh: “Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào thăm thẳm và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển ửng hồng.” (“Kí Cô Tô” – Nguyễn Tuân) thì hội họa dùng đầu cọ để tả nét xanh xanh vàng vàng của mặt biển và bầu trời lúc mặt trời mọc (“Ấn tượng mặt trời mọc” – Claude Monet). Tuy khác nhau là thế nhưng giữa văn học và hội họa luôn có những sự giao thoa kì lạ trong suốt quá tình hình thành tác phẩm nghệ thuật.
Có xa không nếu ví văn học và hội họa là hai người tri kỉ chia sẻ nhiều điểm tương đồng, tác động và hòa hợp lẫn nhau. Rõ nhất có lẽ là trong cách miêu tả cảnh sắc và con người. Hội họa có trong văn học không? Có chứ! Văn học cũng vận dụng những mảng màu để điểm tô lên con chữ hình sắc rất riêng:
“Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc”
Sự hài hòa vừa lạ thường vừa tự nhiên của một bông hoa tím và con sông Hương xanh bình lặng đã bao trùm lên không gian hơi thở đặc trưng của xứ Huế. Hay khi Nguyễn Tuân đặc tả sắc xanh của sông Đà:
“Mùa xuân dòng xanh ngọc bích chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm sông Lô. Mùa thu nước sông đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về.”
Nếu chỉ tả nước sông Đà xanh và đỏ thì độc giả khó có thể tưởng tượng được, nhưng tả sắc “xanh ngọc bích” và “lừ lừ chín đỏ” thì gợi hình vô cùng. Màu xanh được so với “xanh cánh hến’ của các dòng sông khác, sắc đỏ được so với “đỏ giận dữ” còn mang tính đặc tả: chỉ có thể là sắc xanh ấy, sắc đỏ ấy chứ không phải màu nào khác.
Không chỉ có màu sắc mà đôi khi một chút phối xa gần (viễn cận) cũng mang hội họa đến gần hơn với văn chương. Trong “Truyện kiều”, mỗi lần Nguyễn Du đặt bút tả thì một bức tranh tuyệt động lòng người hiện lên:
“Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân, Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.”
Bồn bề mênh mang, núi xa trăng gần, kia bụi hồng, đây cồn cát,… một bức tranh cành tình dung hợp như hiện ra trước mắt. Hay nét bao quát của cảnh trong câu: “Dưới cầu nước chảy trong veo/ Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.” Đã khái quát sự đượm buồn của cảnh chiều tiết thanh minh. Có thể nói, nét hội họa trong văn học đã góp phần làm tăng khả năng biểu đạt và gợi hình vốn đã giàu có của bộ môn nghệ thuật này.
Văn học có trong hội họa không? Câu trả lời vẫn là có. Biết bao những tác phẩm văn chương đã trở thành nguồn cảm hững tuyệt diệu cho hội họa. Bức tranh vẽ hai chị em Thúy Kiều bằng sơn dầu được treo tại hội trường dinh Độc Lập của họa sĩ Lê Chánh lấy cảm hứng từ “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Tác phẩm “Alice trong xứ sở thần tiên” của nhà văn Lewis Carroll là nguồn cảm hứng cho bức “Bữa tiệc trà điên rồ” họa bởi họa sĩ Salvador Dalí. Bên cạnh đó, cũng có những tác phẩm khởi nguồn từ danh tác nổi tiếng như “Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai” của Tracy Chevalier từ bức họa cùng tên của Johaness Vermeer,… Nói tóm lại, mối quan hệ giữa văn học và hội họa chính là sự cộng hưởng, lấy cảm hứng và bổ sung lẫn nhau để tọa nên những tuyệt tác lưu danh muôn đời.
1.2. Văn học và điêu khắc
Có thể ví sợi dây liên kết giữa văn học và điều khắc tuy có chút mong manh nhưng lại dài và chắc. Để hiểu được điều đó, ta cần nắm những tính riêng của hai loại hình nghệ thuật này.
Nếu văn học miêu tả những hình tượng nghệ thuật bằng trí tưởng tượng và cảm xúc thì hình tượng của điêu khắc lại hữu hình và có thể chạm vào. Văn học miêu tả một đôi mắt phượng tuyệt đẹp và một khuôn mặt trăng òn đầy đặn. Nhưng chưa ai thấy phượng, chưa ai sờ trăng bao giờ! Vậy đôi khi sự miêu tả của văn học chỉ là những ước lệ tượng
trưng. Điêu khắc đâu thể tả tượng trưng như thế được, bởi đây là một bộ môn nghệ thuật kết hợp với sinh học, vật lí học,… Mỗi một góc độ trên gương mặt người phụ nữ ấy phải có sự rành mạch, rõ ràng nhất định. Khắc một khuôn mặt phụ nữ, phải khắc đôi mắt sâu, to, ba mí; một khuôn mặt mềm mại phúc hậu,… Ngoài ra, khi tả một con người hay một cảnh đẹp, văn học không đặc tả kĩ lưỡng từng chi tiết trên cơ thể. Thay vào đó, nhà văn lẩy những nét đặc biệt, những hình ảnh đặc sắc để tả và khái quát về toàn bộ con người. Hãy tưởng tượng tuyệt tác “Discobolus” không phải là một bức tượng về một chàng trai ném đĩa mà là một tác phẩm văn chương do một nhà văn Hy Lạp cổ chắp bút: “những lọn tóc sẫm màu xoăn gọn gàng trên vầng trán lực sĩ” hay “từng múi cơ săn chắc đến hoàn hảo hoạt động nhịp nhàng khi cánh tay tạo một lực đẩy phi thường đưa dĩa bay xa lên không trung”. Dù tả một cách tỉ mỉ thế nào, vẫn không thể phủ nhận điêu khắc linh hoạt hơn trong việc miêu tả cẩn thận từng chi tiết với độ thực ba chiều.
Ngược lại, văn học lại khẳng định thế mạnh của mình qua miêu tả một sự việc. Trong một chuỗi hành động từ lấy đà, tạo lực, ném dĩa,… điêu khắc chỉ “chụp” lại một khoảnh khắc vàng, chói lọi duy nhất. Văn học thì không. Chất liệu ngôn từ cho phép nhà văn viết hẳn một tiểu sử cho anh ta. Nhìn vào một cảnh có núi, có nước, có cá, có chim. Điêu khắc có thể chỉ tả một ngọn núi, cũng có thể tả tất cả. Muốn vật liệu gì, từ đá, gỗ đến thạch cao, đều có thể đáp ứng. Nhưng văn học lại có thể tả tiếng chim hót, tả tiếng nước động mỗi khi cá quẩy đuôi, tả ánh lung linh từ những bọt khí cuối thác nước. Hơn nữa, bản thân sự tưởng tượng trong văn học đã là một sự sáng tạo. Chúng ta biết đôi chân mày lá liễu là một đôi chân mày đẹp, nhưng đẹp như thế nào, văn học không nói rõ, chỉ để độc gải tưởng tượng đôi chân mày cho riêng mình. Có người nghĩ đến một đôi chân mày mỏng và nhọn, có người lại nghĩ đến một đôi chân mày nhạt, cong cong. Sức hút của văn học chính là nằm ở đó. Sự chi tiết và chính xác tỏng điêu khắc vừa là ưu điểm vì mang đến hình ảnh chân thực nhất, vừa là nhược điểm vì đã vô tình giết chết khả năng tưởng tượng của khán giả.
Văn học và điêu khắc cũng có nhiều ảnh hưởng lẫn nhau. Có lẽ ai đã từng đến Gruzia sẽ không thể nào quên tuyệt tác lãng mạn “Ali và Nino” của nhà điêu khắc Tamara Kvesitadze lấy cảm hứng từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Kurban Said. Trong nền văn hóa Chăm, những bức tượng hay hoa văn điêu khắc hình khỉ được lấy nguyên mẫu từ khỉ thần trong sử thi Ấn Độ Ramayana. Ngược lại, những pho tượng và thế giới điêu khắc sinh động cũng nhiều lần xuất hiện trong văn học như truyện cổ tích Đức “P ho tượng của nhà điêu khắc” phản ánh tâm địa rắn rết của những kẻ hay ghen ghét, đố kị với người tài; câu chuyện thần thoại Hy Lạp về Aprodite và Pygmalion – một người thợ điêu khắc tài năng,…Cũng giống như với hội họa, văn học và điêu khắc liên kết với nhau bằng một mối dây bền chặt không thể tách rời, vừa khác biệt, vừa bổ sung lẫn nhau. Vậy còn âm nhạc thì sao?
1.3. Văn học và âm nhạc
“Nghệ thuật của âm thanh” là một cách gọi mĩ miều mà thính giả dành cho âm nhạc, nhưng ít ai có thể thực sự lí giải được sự tuyệt diệu đó. Anh gõ xuống một tảng đá, anh chỉ mới tọa nên những tiếng động mà thôi, nhưng anh sắp xếp nhiều tiếng động theo một
trật tự nhất định, anh thổi hồn mình vào đó thì anh đã có một giai điệu. Vậy, cũng là nghệ thuật sắp xếp, một bên là ngôn từ, một bên là âm thanh, chúng có mối dây liên kết nào?
Để diễn tả một tình huống hay một cảm xúc, văn học thường sử dụng vần, sắc độ từ ngữ và nhịp điệu câu. Như bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng có câu:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm”
Câu thơ dừng lại ở vần trắc và có nhịp thơ 4/3 gợi liên tưởng đến hơi thở gấp gáp, nặng nhọc của người chiến sĩ đang chinh phục từng dốc núi vừa “khúc khuỷu” lại “thăm thẳm”. Trong khi đó, âm nhạc lại vận dụng sắc đô âm thanh, nhịp và thời gian để biểu lộ sự sống và trạng thái. Bản nhạc “River flows in you” của nhạc sĩ người Hàn Yiruma đã thể hiện một dòng sông với những làn nước lặp đi lặp lại, lúc dịu êm, lúc gấp gáp. Nhịp 4/4 đã được khéo léo sử dụng để tọa một cảm giác yên bình cho mỗi thính giả để họ có cảm giác như có một con sông đang chảy trong tâm hồn mỗi con người. Bản “The fight of the bumblebee” của nhà soạn nhạc người Nga Nikolai Rimsky Korsakov thì lại vận dụng tiết tấu lúc nhanh lúc chậm, sắc âm lúc ù lúc bén, âm lượng lúc nhỏ lúc to để miêu tả đường bay của một đàn ong và âm thanh chúng tạo ra. Nhìn chung, dù là nhịp thơ hay nhịp của một bài hát, âm điệu hay âm sắc thì văn học và âm nhạc đều là bậc thầy của nghệ thuật sắp xếp và sử dụng vật liệu một cách linh hoạt và hiệu quả bậc nhất.
Hình tượng nghệ thuật trong văn học, nếu đối với điêu khắc là chưa rõ thì đối với âm nhạc lại còn rất rõ ràng. Địa hạt của âm nhạc là địa hạt kì diệu của những trạng thái cảm xúc và thế giới quan kì lạ. Lắng tai nghe bản “Summer” trong tuyển tập “Four Seasons” của nghệ sĩ Vivaldi, ta cảm nhận được không khí mùa hè nô nức, náo nhiệt qua tiếng vĩ cầm tươi sáng. Nhưng đó là mùa hè nào, màu hè ở đâu, không có thể trả lời được cả. Ta nghe bản “Clair de lune” của Debussy, ta như nhìn thấy một vầng trăng dịu hiền vào một đêm sáng. Nhưng lại một lần nữa, đó là ánh trăng hay chỉ là một hình ảnh phản chiếu dưới mặt nước, chỉ có thể để mỗi người một cảm nhận. Chính vì thế mà cũng giống như văn học, âm nhạc mang đến cho người tiếp cận một cảm xúc hoàn toàn mới để rồi sau mỗi lần thưởng thức là một cảm giác rạo rực khác thưởng.
Có nhiều điểm tương đồng là thế nên văn học và âm nhạc được liên kết với nhau qua một mối giây bên chặt. Thơ ca trong văn học là một loại hình có tính nhạc cao. Bởi lẽ, thơ là “nhạc của tâm hồn”. Nhạc tính trong thơ được tọa nên qua nhiều hình thức tổ chức và sắp xếp ngôn ngữ khác nhau, tạo thành những hòa âm trầm bổng riêng biệt. Âm nhạc có “đô rê mi sol la si” thì thơ có âm khu cao (sắc, ngã), âm khu trung (thanh ngang), âm khu trầm (huyền, hỏi, nặng). Và vì thơ và âm nhạc đều chọn cho mình phương thức biểu hiện là trữ tình nên có không ít bài thơ đã được phổ thành nhạc. Những bài thơ như “Màu tím hoa sim” (Hữu Loan), “Tia nắng hạt mưa”(Lê Bình),… đều trở thành những bài hát kinh điển trong nền âm nhạc nước ta. Đôi lúc, âm nhạc và văn học lại có sự giao thoa. Ví dụ điển hình là chèo và hò. Đây là hai loại hình thuộc văn học dân gian, song khi xướng lại có tính nhạc, có giai điệu, có lời, có nhịp. Lại có lúc, âm nhạc lại lấy cảm hứng từ chính văn học. Có thể kể đến như bài “Bống bống bang bang” – lấy cảm hứng từ truyện cổ tích (Only C), “Bánh trôi nước” – từ một bài thơ trung đại (Hồ Hoài Anh), “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” – truyện dài hiện đại (Châu Đăng Khoa),…Nhìn chung, văn học
và âm nhạc gắn bó với nhau vô cùng sâu sắc, vừa có nhiều điểm tưởng đồng, vừa có sự giao thoa không thể lẫn vào với bất kì một loại hình nghệ thuật nào khác.
1.4. Văn học và kiến trúc
Văn học và kiến trúc tưởng như không có nhiều điểm chung nhưng lại trong một mối quan hệ vô cùng bền chặt.
Kiến trúc là một bộ môn nghệ thuật khá đặc biệt vì là sự kết hợp giữa “văn” và “khoa học”. Một công trình đẹp thì tiên quyết phải an toàn, an toàn lại cần đến tính toán. Tòa nhà cao thứ hai thế giới tháp Thượng Hải nổi tiếng vì cấu trúc xoắn quanh trọng tâm của nó 120 độ, mang đến góc nhìn toàn cảnh thành phố và vẻ ngoài đặc biệt, nhưng chính độ xoắn cũng làm giảm sức gió và góp phần chống bão và động đất. Có thể nói khoa học và nghệt thuật đã được kết hợp một cách hoàn hảo trong kiến trúc. Cũng giống như điêu khắc, kiến trúc bộc lộ thế giới hình tượng một cách hữu hình, có thể thực tế chiêm ngưỡng, chạm vào. Vì thế nên về cơ bản, mối quan hệ của kiến trúc và văn học cũng khá tương đồng với điêu khắc. Tuy nhiên, lại có những công trình nghệ thuật kiến trúc bao gồm cả những tác phẩm điêu khắc (như Nhà hát Thành phố tọa lạc tại quận 1 thành phố Hồ Chí Minh,…). Khi ấy, kiến trúc còn là cầu nối hay sự giao thoa của các bộ môn nghệ thuật khác và văn học.
Văn học kết hợp suy nghĩ, cảm xúc và ngôn từ để bộc lộ tư tưởng và phản ánh cuộc sống. Vì vậy, có thể nói mỗi nhà văn là kiến trúc sư của ngôn từ. Mặt khác, kiến trúc lại kết hợp ý tưởng và tính toán để tọa nên một mô hình có thật ngoài thực tế. Mỗi kiến trúc sư là một bậc thầy thao túng không gian. Cả văn học và kiến trúc đều là những bộ môn nghệ thuật mà một trong những nhiệm vụ của nghệ thuật lại là thõa mãn cái đẹp. Khi đó, văn học nghiêng về thõa mãn cái đẹp về tinh thần, tức mỗi nhà văn sẽ là một “con ong tìm mật” đi tìm “những hạt ngọc ẩn giấu sâu trong tâm hồn con người”, những vẻ đẹp mà đời sống đã kết nhụy giữ gìn. Để thưởng thức cái đẹp ấy, người đọc buộc phải cảm nhận và đọc tác phẩm. Nói cách khác, cái đẹp tỏng văn học đi đến độc giả bằng tinh thần.
Ngược lại, kiến trúc lại mang đến vẻ đẹp thiên về đời sống và thực tiễn nhiều hơn. Một tác phẩm đẹp phải có giá trị ứng dụng và thường hướng về tính thực tế. Không giống như văn học cần có một người, tập giấy và cây bút, xây một công trình bên cạnh ý tưởng và một con tim nhiệt huyết còn cần có nhân công, có đất, có tiền, có cả một đội ngũ. Đâu dễ dàng để một Vũ Như Tô xây nên một “Cửu Trùng Đài” đâu! Nhưng cũng chính vì vậy nên người ta đến với một công trình kiến trúc bằng một đôi mắt khác. Người ta có thể đứng trước một công trình kiến trúc rồi trầm trồ về vẻ đẹp của nó dù chưa hề biết gì về tên gọi hay lịch sử hình thành, nhưng đối với văn học thì không. Độc giả không thể nhìn vào từng tờ giấy trắng in mực rồi ca ngợi vẻ đệp của nó được. Họ phải đọc, phải sống từng giấy từng phút trong tác phẩm ấy, phải thấm nhuần trong lí tưởng mà nhà văn gửi gắm. Bàn về mối quan hệ giữa văn học và kiến trúc, tỏng tác phẩm luận “Bảy ngọn đèn kiến trúc” của John Ruskin có trích đoạn sau:
“Chỉ có hai kẻ chinh phục một cách mạnh mẽ tính hay quên của đàn con người: Thơ và Kiến trúc; và cái sau đôi khi bao gồm cái trước trong một số trường hợp, và mạnh hơn
cả trong thế giới của nó; thật tốt khi nó sở hữu không chỉ những gì con người đã nghĩ và cảm nhận, mà còn có những gì bàn tay của ta đã xử lý, sức mạnh mà ta đã rèn luyện, và đôi mắt của ta đã nhìn thấu, trong từng ngày suốt cuộc đời ta.”
Nếu trong văn học, suy nghĩ và tình cảm là nội dung được bộc lộ thì kiến trúc lại biến nó trở thành biểu hiện vật chất. Văn học và kiến trúc liên kết với nhau một cách mạnh mẽ qua nhiệm vụ làm giàu tâm hồn con người. Các quần thể di tích Agora, Acropol hay điện thờ thần Artemis, đền Silinus, thành Troy… là tiêu biểu cho liên kết ấy với vẻ đẹp như mang cả một thế giới thần thoại Hy Lạp, cả một “Illiad” bi tráng về thực tại. Nếu cho rằng văn học hướng về thời gian (phi vật thể), kiến trúc hướng về không gian (vật thể) thì những tác phẩm nghệ thuật với sự pha lẫn của cả hai sẽ là những tuyệt tác nghìn đời, nghìn thế giới, xuyên không – thời gian và sẽ mãi tồn tại, thõa mãn nhu cầu của con người cho đến ngày tận thế.
1.5. Văn học và sân khấu
Tại sao sân khấu lại được gọi là bộ môn nghệ thuật thứ sáu? Thực chất gọi sân khấu cũng không bao quát lắm, vì cái tên đầy đủ của nó là “nghệ thuật trình diễn”. Có thể nói sân khấu là một bộ môn khác biệt bậc nhất so với các loại hình nghệ thuật còn lại. Nếu chất liệu của văn học là ngôn từ, hội họa là màu sắc, điêu khắc và kiến trúc là vật liệu xây dựng, âm nhạc là âm thanh thì chất liệu của sân khấu lại chính là văn học, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc,… tức là những bộ môn nghệ thuật còn lại. Nói cách khác, sân khấu chính là nghệt thuật trình diễn những bộ môn nghệ thuật trước khán giả một cách trực tiếp (khác với điện ảnh là gián tiếp). Vì thế, nguồn cảm hứng của sân khấu không nghiêng về một bộ môn nào cụ thể mà mỗi tác phẩm của nghệ thuật sân khấu đều là sự hòa hợp của nhiều loại hình nghệ thuật.
Cụ thể hơn, nơi trình diễn của sân khấu vốn dĩ đã là một tác phẩm nghệ thuật của kiến trúc và điêu khắc như nhà hát con sò tại Sydney, nhà hát quả tứng Downtown Albany tại Mỹ, Nhà hát Thành Phố tại thành phố Hồ Chí Minh,… tất cả đều mang những vẻ đẹp hiếm có. Mỗi buổi biểu diễn theo từng thể loại mà sẽ là sự kết hợp của những bộ môn khác nhau như Opera là âm nhạc, hội họa,…; kịch là văn học, diễn xuất,… Ngoài ra, theo thời gian, những thể loại của sân khấu có ít nhiều sự thay đổi: nhạc kịch được xem là opera hiện đại,…
Hầu hết các loại hình sân khấu đều bao gồm ca hát (hát cải lương, nhạc ba lê, hát opera,..), vì vậy âm nhạc thường gắn liền với bộ môn nghệ thuật này. Sự kết hợp của âm thanh trong sân khấu tạo nên sự thú vị và gần gũi giữa người xem và người tham gia.
Nếu âm nhạc thính phòng đi liền với biểu diễn sân khấu thì văn học lại năm trong tay phần “kịch bản”. Hầu hết nội dung của các vở diễn bắt nguồn từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, các trận đấu lịch sử anh hùng, các thế lực thống trị và đặc biệt là các tác phảm văn học dân gian. Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, văn học đã chứng minh vai trò quan trọng của nó trong việc mang đến nguồn cảm hứng phong phú cho các bộ môn nghệ thuật khác. Kịch Hy Lạp cổ (được coi là cha đẻ của kịch đương địa phương Tây) có nguồn gốc từ lễ hội các vị thần rượu trong thần thoại Hy Lạp. Sau này, kịch bản của kịch được viết
hoàn toàn bằng thi ca, chia làm hai phần: đồng ca (thơ hát) và đồng thoại (thơ ngâm). Những vở không có lời ở kịch đương đại phương Tây cũng lấy cảm hứng từ chất liệu dân gian rất nhiều (vở ba lê “Hồ thiên nga” do Tchaikovsky biên soạn bắt nguồn từ một truyền thuyết của Đức, vở nhạc kịch “The bride of Lammamour” lấy cảm hứng từ tiểu thuyết cùng tên của Sir Walter Scott).
Còn ở nước ta, nghệ thuật sân khấu ra đời từ sớm, gắn liền với đời sống thường nhật của người dân như: vở chèo từ sự tích dân gian và truyện thơ “Quan âm thị kinh”, phản ánh thực tại xã hội như “Nghêu sò ốc hến” hay bắt nguồn từ truyện cổ dân gian là “Hồn trương ba, da hàng thịt”. Bản thân phần kịch bản của ca kịch đã là một tác phẩm mang tính văn học và những đoạn trích như “Cửu Trùng Đài”, “Hồn trương ba da hàng thịt” cũng được đưa vào chương trình học như những công tình nghệ thuật xuất sắc. Có lẽ sự tương đồng đáng kể của hai bộ môn nghệ thuật đã tạo nên hiệu ứng giao thoa mãnh liệt đến vậy.
Tuy giống nhau là thế nhưng văn học và sân khấu cũng có những điểm khác biệt. Nếu văn học chỉ có một hình thức bộc lộ là qua con chữ nhưng mỗi lần đọc thì độc giả lại tìm ra những ý mới về nội dung thì sân khấu lại chỉ có một nội dung, kịch bản duy nhất nhưng hình thức nó được bộc lộ (khi người nghệ sĩ hát, múa,…) thì lại không lần nào giống với lần nào. Hình tượng nghệ thuật trong văn học và sân khấu chia sẻ nhiều điểm giống nhau, nhưng hình tượng trong sân khấu ngoài việc hiện lên qua trí tưởng tượng thì còn qua cái nhìn và cái nghe. Những nhân vật văn học huyền thoại như nữ thần, cô Tấm,… như bước ra đời thực qua sân khấu. Nhìn chung, loại hình nghệ thuật này có nhiều điểm riêng nên cách nó gắn kết với văn học cũng rất đặc biệt. Đây là một mối quan hệ bền vững, lâu dài và bắt nguồn từ rất lâu về trước trong lịch sử loài người. Mối quan hệ vẫn tiếp tục phát triển theo sự vận động của thời gian…
1.6. Văn học và điện ảnh
Điện ảnh cũng là một loại hình nghệ thuật biểu diễn, nhưng là gián tiếp chứ không xem trực tiếp như sân khấu. Không giống như các loại hình nghệ thuật khác, bộ môn nghệ thuật thứ bảy này còn khá non trẻ. Điện ảnh đã tận dụng lợi thế đến sau của mình để lấy cảm hứng dồi dào từ những bộ môn đi trước. Mối quan hệ giữa điện ảnh và văn học cũng có nhiều điểm giống với văn học và sân khấu. Điều làm nên sự khác biệt của điện ảnh so với sân khấu chính là lấy cả sân khấu làm chất liệu. Một tác phẩm điện ảnh có thể lấy bối cảnh từ kiến trúc và điêu khắc, lấy âm thanh từ âm nhạc, lấy màu sắc và sự hài hòa từ hội họa, lấy nội dung từ văn học, lấy diễn xuất từ sân khấu. Văn học đã vô số lần là nguồn cảm hứng cho điện ảnh với vô số tác phẩm văn chương được chuyển thể thành phim, còn có những tác phẩm kể về cuộc đời của các nhạc sĩ, kiến trúc sư, nhà văn,…
Điện ảnh được gọi là bộ môn nghệ thuật thứ bảy, vậy con số này mang đến cho nói điều gì đặc biệt? Theo quan điểm của nhà lí luận điện ảnh Canuđô, nghệ thuật nói chung được chia làm hai: nghệ thuật thời gian (âm nhạc, sân khấu, thi ca) và nghệ thuật không gian (hội họa, kiến trúc, điêu khắc). Nghệ thuật thời gian mang tính động, có nhịp điệu và tiết tấu; còn nghệ thuật không gian mang tính tĩnh và có tính tạo hình, gợi ảnh. Canuđô cho rằng điện ảnh đã tổng hợp các tính chất của sáu loại nghệ thuật được kể trên nên ông
đã ưu ái đặt cho nó cái tên gọi “bộ môn nghệ thuật thứ bảy”. Chất liệu dồi dào của điện ảnh rõ ràng đã mang đến cho nó nhiều lợi thế, vậy bộ môn này và văn học có mối quan hệ như thế nào?
Trước hết phải hiểu văn học cũng là một loại hình nghệ thuật mang tính tổng hợp giống như điện ảnh (“Thơ là thơ, đồng thời là nhạc, là họa, là chạm khắc theo một cách riêng” – Sóng Hồng). Tuy nhiên, cách điện ảnh tiếp cận với những bộ môn nghệ thuật lại khác so với văn học: tính nhạc trong thi ca sẽ hòa hợp với từng câu chữ nhưng âm nhạc trong điện ảnh lại được sử dụng như phần đệm của tác phẩm; hội họa trong văn học được miêu tả chi tiết nhưng vẫn để độc giả tưởng tượng, còn ở điện ảnh, khán giả sẽ nhìn trực tiếp màu sắc ấy,…
Ngoài ra, không – thời gian trong văn học và điện ảnh cũng có nhiều điểm cần bàn. Trong văn học, không gian và thời gian mang tính nghệ thuật và biến chuyển linh hoạt tùy theo ý muốn của tác giả. Thời gian có lúc luân chuyển vật lí (“Sen tàn cúc lại nở hoa” – “Truyện Kiều” – Nguyễn Du), lúc chỉ mang tính tượng trưng (thời điểm chia tay là lúc chiều tà), lúc chậm rãi (“Chuông nguyện hồn ai” của Hemingway diễn ra chỉ ba ngày hai đêm nhưng dài gần 500 trang), có lúc lại nhanh chóng chỉ qua vài câu trần thuật ngắn. Không gian cũng thế, lúc lại kéo dài vô tận (“Đứng bên kia đồng ngó bên ni đồng mênh mông bát ngát/ Đứng bên ni đồng ngó bên kia đồng bát ngát mênh mông” – ca dao), lúc lại tù túng, chật hẹp (“Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng” – “Vợ chồng A Phủ” – Tô Hoài),…Trong điện ảnh, không – thời gian vẫn mang đậm tính nghệ thuật, nhưng lại được thể hiện bằng cả hình ảnh lẫn âm thanh. Điều đó cho phép không gian được “nhảy” sang một nơi khác chỉ trong một cái lia máy, thời gian cũng từ đó mà thay đổi theo. Mỗi người nghệ sĩ khi làm một tác phẩm điển ảnh phải xây dựng và mang cả một thế giới hình tượng ra ngoài đời thực từ chính sự tưởng tượng của mình. Và bởi điện ảnh đôi lúc có yêu cầu về mặt thời gian nên không gian cũng phải có sự thay đổi, sắp xếp để phù hợp. Bên cạnh những sự khác biệt, không – thời gian trong hai bộ môn này cũng có nhiều điểm chung, làm cho mối quan hệ của chúng thêm gắn kết như đều linh hoạt, sắp xếp dễ dàng (kể ngược về quá khứ, kể về tương lai,…); vô tận, vô biên theo trí tưởng tượng của tác giả, có thê diễn ra song song (hai sự việc một lúc,…);… Vậy, cũng giống như các bộ môn nghệ thuật phía trước, giữa văn học và điện ảnh luôn tồn tại một mối liên kết vững bền và mãnh mẽ, có sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau.
1.7 Tổng hợp
Cách phân chia thành bảy loại hình nghệ thuật vẫn còn nhiều tranh cãi. Bên cạnh các bộ môn nghệ thuật được nêu trên, ta còn có thời trang, nhiếp ảnh,… cũng thuộc phương diện nghệ thuật. Giữa các bộ môn này, không chỉ với văn học, đều có sự ảnh hưởng nhất định và không thể phân định rạch ròi. Ngoài ra, những bộ môn nghệ thuật còn lại hầu hết đều hướng về các giác quan của con người như nghe, nhìn,… duy chỉ có văn học không thể được cảm nhận bằng điều đó mà phải trải qua một quá tình thiết yếu là sự đọc. Một tác phẩm văn học sẽ chỉ là những con chữ đen vo bồ, vô cảm nếu không được người đọc tiếp nhận hoặc người đọc không có khả năng tiếp nhận. Hơn nữa, chất kiệu của văn học
lại là ngôn từ, một hình thức ghi chép linh hoạt có thể biến chuyển theo thời gian và không gian. Một người Việt có thể hiểu một bài nhạc từ Đức, chúng ta dù không hiểu nhiều về lịch sử vẫn có thể chiêm ngưỡng những công trình vĩ địa do cha ông dựng nên, nhưng không đọc một cuốn sách từ nước ngoài nếu không có vốn kiểu biết ngôn ngữ ấy và lại càng không thể ngắm nhìn vẻ đẹp của những con chữ như đối với hội họa được. Ấy nhưng, bỏ qua điều đó, văn học ngày một khẳng định sức quảng đại của nó và xứng đáng trở thành một bộ môn nghệ thuật gần gũi, là tri kỷ của toàn thể nhân loại.
2. VĂN HỌC VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI VĂN HÓA
Văn hóa là gì? Văn hóa có thể được hiểu theo nhiều cách. Theo nghĩa hẹp, văn hóa là cách sống, cách ứng xử; theo nghĩa rộng hơn, văn hóa còn chỉ đến ẩm thực, trang phục, ngôn ngữ,…và theo nghĩa rộng nhất, văn hóa bao gồm tất cả bộ phận trong đời sống con người, không chỉ liên quan đến tinh thần mà bao gồm cả vật chất. Vậy văn hóa rộng như thế, mối quan hệ của nó và văn học là như thế nào?
Nói đến mối quan hệ của văn học và văn hóa là nói đến một chủ đề muôn thuở. Trong hầu hết mọi trường hợp, văn hóa được cho là nguồn cảm hứng và cội nguồn của văn học. Bởi lẽ, văn học bắt nguồn từ đời sống mà văn hóa, theo nghĩa rộng, lại là tất cả mọi bộ phân liên quan, gắn bó mật thiết với con người. Những chủ đề văn hóa như phong tục, lễ hội, truyền thuyết,… đều là những mảnh đất màu mỡ mà văn học từ lâu đã bám rễ. Bản thân ngôn ngữ, ngôn từ – chất liệu của văn học đã là một phạm trù thuộc về văn hóa. Hơn nữa, mỗi tác phẩm là một thế giới nghệ thuật riêng. Thế giới ấy phải được xây dựng với những quy luật, giá trị phù hợp với người tọa ra nó. Vì thế, văn học được ví như một bức tranh lớn phản ánh văn hóa một cách khéo léo qua nghệ thuật ngôn từ mà người đọc chính là người sẽ tìm hiểu những nét văn hóa ấy qua lăng kính của nhà văn. Tức văn hóa trong văn học ít nhiều óc sự thay đổi. Khi đó, có thể gọi những tác phẩm văn học là sản phẩm văn hóa tinh thần tồn tại qua quá tình lao động của người nghệ sĩ. Theo bước từng quá trình biến đổi của thời gian, văn hóa cũng có sự thay đổi. Như khi nền văn hóa phương Tây theo chân người Pháp du nhập vào Việt Nam, đứng trước sự thay đổi lớn về văn hóa như thế, các nhà văn cũng có sự chuyển biến trong phong cách sáng tác như sự ra đời của phong trào thơ mới. D.C.Likhachốp đã khẳng định mối quan hệ hệ này một cách đầy đủ: “Văn học “nói” thay cho văn hoá dân tộc giống như con người “nói” thay cho tất cả những gì trong trời đất. Vì vậy, những biến động, những thay đổi, tiến triển trong đời sống văn hoá dân tộc cũng sẽ kéo theo sự chuyển đổi, phát triển của lịch sử văn học dân tộc.” Và vì văn hóa sẽ trở nên giàu có và dày dặn lên theo thời gian, văn học cũng ngày một phong phú hơn.
Tuy vậy, văn học đôi khi lại tác động ngược lại đối với nền văn hóa, tạo nên một mối quan hệ phụ – quan hệ tương hỗ. Khi đó, một tác phẩm văn học đã có sự gắn bó sâu sắc nhất định với đời sống, sinh hoạt của người dân có thể trở thành một phần trong nếp nghĩ và cuộc sống của họ. Có thể kể đến như tác phẩm “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du. Tác phẩm đã phổ biến đến mức quen thuộc của mỗi người dân Việt Nam và đã đóng góp cho kho tàng ngôn ngữ dân tộc thêm phong phú (sở khanh,…) hay các hình thức ra đời sau tác phẩm như lẩy kiểu, bói kiều gắn bó ngược trở lại đời sống văn hóa của người dân. Chính vì thế mà có thể nói, giữa văn họa và văn hóa có một mối quan hệ gắn bó hữu
cơ, tác động liên tục lẫn nhau. Tuy nhiên, sự tác động ngược lại đó cũng không thể khiến ta phủ nhận văn hóa vẫn giữ vai trò là nguồn cội của văn học, là nguồn cung cấp chất liệu, vố n sống, tri thức và cảm hứng phục vụ mục đích tạo nên những tác phẩm nghệ thuật sáng tạo của nhà văn. Đây là nguồn cảm hứng muôn đời, muôn thế kỉ của không chỉ văn học mà còn có rất nhiều bộ môn nghệ thuật khác.
Nói tóm lại, dù tương hỗ hay là cội nguồn, mối dây liên kết giữa văn học và văn hóa là một sự liên kết bền chặt và gắn bó mật thiết. Qua sự phát triển không ngừng, mối liên kết này vẫn được giữ vững và sẽ đồng hành cùng loài người đễn mãi về sau.

Leave a Reply