“Thu rừng” Huy Cận

“Thu rừng” quả là một bài thơ hay gây thương nhớ.

“Bỗng dưng buồn bã không gian,
Mây bay lũng thấp giăng màn âm u.”

Ngay từ nhan đề, không gian và thời gian đã được xác định rõ (rừng vào thu) (không phải là rừng thu mà lại là thu rừng, tức thu làm chính). Ta cứ ngỡ bài thơ sẽ góp phần cụ thể hóa nhan đề này, ấy nhưng hóa ra lại lầm to. Càng đọc, ta mới càng thấm trong cảm xúc mơ hồ, mù mịt như chính cảnh rừng được miêu tả vậy. Đến cả nỗi buồn trong thơ cũng không cụ thể, “không hiểu vì sao tôi buồn”: “Bỗng dưng buồn bã không gian”. Nỗi buồn ấy đến từ đâu? Chẳng có gì cụ thể cả mà chỉ đành vô trách nhiệm vịnh vào hai chữ “bỗng dưng”. Ta mơ hồ thấy ở nỗi buồn bã có gì đó bất ngờ, bàng hoàn mà lại có hướng lê thê, chậm rãi dần (dấu ngã từ từ “bã”). 

Đến câu kế tiếp, nhà thơ lại chấm phá vào bức tranh thêm một nét mới: mây bay. Cứ ngỡ mây đến sẽ xua đi nỗi buồn, nhưng ngẫm lại ta mới vỡ lẽ rằng hóa ra nỗi buồn kia đến cùng mây. Lúc này đây, nỗi buồn bã lúc trước khi đi cùng áng mây nhẹ lại tạo cảm giác trĩu nặng như phủ lên cả khu rừng một lớp màn mờ ảo, âm u. Cách ngắt nhịp 2/2/2/2 cũng khéo léo miêu tả bước đi của mây, cũng là bước đi của thời gian độ sang thu: từ từ, nhẹ nhàng, chậm rãi mà lại khó quên.

“Nai cao gót lẫn trong mù
Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.”

Trong câu thơ tiếp theo, sự xuất hiện của một loài vật tưởng như sẽ mang đến sinh khí cho bài thơ lại một lần nữa gợi cảm giác u buồn. Nhắc đến nai và mùa thu, ắt hẳn độc giả sẽ nhớ đến vài dòng thơ của Lưu Trọng Lư: “Con nai vàng ngơ ngác/ Đạp trên lá vàng khô”. Cùng mượn hình ảnh nai để nói về mùa thu, ấy nhưng “nai” trong thơ Huy Cận không gợi lên một âm thanh hay một hình ảnh ngơ ngác nào cả mà dường như cũng hòa cùng với cảnh sắc thiên nhiên phía trên. Ta cũng cảm thấy nhiều điểm khúc mắc. Con nai “cao gót” lên, nhưng lại “xuống rừng” thong thả (nhịp thơ 2/2/2/2 lại một lần nữa được áp dụng). “Xuống rừng” để “nhìn thu” và “lẫn trong mù” nhưng hướng vận động của trời bấy giờ lại là từ trên xuống (“lũng thấp”), tức “nai” phải theo lý mà chạy lên thượng rừng để đón thu về. Ấy nhưng, tất cả sự vô lý đó lại trở nên hợp lí bởi “nai” khi được quan sát lúc bấy giờ đã “lẫn trong mù”. Lúc này đây, sự mơ hồ, âm u, mù mù của trời sang thu làm mờ đi bức tranh nhưng lại làm rõ khí trời phút giao mùa.

“Sắc trời trôi nhạt dưới khe;
Chim đi lá rụng, cành nghe lạnh lùng.
Sầu thu lên vút, song song.
Với cây hiu quạnh, với lòng quạnh hiu.”

Bốn câu kế tiếp lại phác họa rõ hơn cảnh thu ấy. “Sắc trời” không được nhìn trực tiếp mà qua khe nhỏ (một lần nữa sự vật không được đề cập cụ thể (khe lá, khe suối?)). Nếu đã là khe suối thì trời được phản chiếu qua mặt nước, nên trôi cũng là dễ hiểu. Nhưng nếu là khe lá, sắc trời trôi liệu có phải là chuyển biến quá nhanh so với câu thơ trước? Những câu thơ tiếp theo, rừng thu lúc này đây lại có thêm nhiều nét mới với hình ảnh chim bay tránh rét và hình ảnh lá rụng đặc trưng. Điểm lạ là màu sắc của lá không được đề cập tới – một chi tiết rất hay được sử dụng trong thơ cổ để đặc tả màu xuân. Không biết liệu cách tả này có được xem là “mới” so với trường thơ cũ hay chưa? 

Tiếp đến, bức tranh thu được hoàn thiện bằng mảnh ghép cuối cùng – cảm xúc. Đọc thơ Huy Cận, ta thấy nhà thơ hay miêu tả từ xa đến gần, từ không gian bên ngoài đến cảm xúc bên trong. Bài thơ này cũng không phải là một ngoại lệ. Cảm xúc được tinh chắt từ nỗi buồn nay đã hóa sầu, từ không gian hiu quạnh cô đơn mà buồn đến cả lòng. Hiu quạnh không phải vì không có hay quá ít chim muông, mà là vì không có người đồng cảm và hiểu được nỗi sầu trong lòng mình. Quạnh hiu và hiu quạnh được lặp lại như một nỗi sầu luẩn quẩn không lối thoát, chỉ dẫn đến âm u.

“Non xanh ngây cả buồn chiều,
– Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.”

Ở hai dòng cuối của bài thơ, sự xuất hiện lần đầu của màu xanh gợi cho bức tranh thu một sự khác biệt khó tả. Vốn màu xanh gắn liền với mùa xuân, mùa hạ, còn màu vàng cam đỏ sẽ đi với thu. Thơ Huy Cận lại tả “non xanh” ngay giữa chốn thu buồn bã. Nhưng cái xanh kia cũng không làm dậy được cả không gian, mà non còn “ngây” trước cái chuyển biến giao mùa. Từ “ngây” cũng rất độc đáo. Đó không phải là “si” hay “mê”. “Ngây” mang đến cảm giác tự chủ của tâm hồn non xanh, cũng như tạo cảm giác gián đoạn, dừng lại vài giây để nhìn thu sang. Quan trọng hơn hết, “non xanh” dường như cũng là hóa thân của nhân vật trữ tình. Lời của “non xanh” sau dấu gạch đầu dòng: “nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia” dường như cũng là lời của nhân vật trữ tình khi “ngây” trước mùa thu. “Dưới kia” là cả một xã hội mang nỗi buồn thế hệ không lối thoát. Nhân vật như muốn trốn vào rừng để thoát khỏi nhân gian dưới kia, nhưng lại một lần nữa rơi vào vòng lặp quạnh hiu. “Non xanh” không nhìn “nhân gian” một cách cao ngạo mà có gì đồng cảm và xót xa… Một bài thơ mang nặng sự sầu, nỗi buồn, nét âm u ám ảnh khó giải thích, càng tả chi tiết hơn lại càng trở nên mơ hồ và mịt mù hơn. Cả mạch cảm xúc và sự xuất hiện của sự vật chỉ được lí giải bằng một từ duy nhất “buồn” thăm thẳm.

Với nghệ thuật độc đáo được viết bằng một thơ đầy nỗi niềm, bài thơ “Thu rừng” của Huy Cận là một đặc sắc thơ lục bát với cách trình bày khác biệt (cách dòng mỗi một cặp), gợi cho độc giả nhiều cảm xúc khó thể quên.


Discover more from aliceinHerLand

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply